Che Guevara (1928 - 1967)
Ernesto Guevara de la Serna Cha của ông, Ernesto Guevara Lynch, là một kỹ sư; mẹ ông, bà Celia de la Serna, là một phụ nữ có tư tưởng cấp tiến. Năm lên hai tuổi, Che bị viêm phổi và sau đó phát triển thành bệnh suyễn, căn bệnh này đã theo ông trong suốt cuộc đời. Che đã tuyên chiến với căn bệnh này và đã bắt đầu tập luyện các môn thể thao mà thường thì người ta cấm những người mắc bệnh hen suyễn tập như: Bóng đá, chạy, quần vợt, chơi gôn, bơi lội, đấu kiếm, leo núi, võ thuật, bóng chuyền, bóng rổ, bơi thuyền... Sự can đảm, coi khinh cái chết đã xuất hiện ở ông từ khi còn là cậu bé. Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, Che Guevara đã làm hầu như tất cả những công việc mà người đàn ông có thể làm. Là người con trai trong gia đình, người chiến sĩ, người chỉ huy, người lãnh đạo Nhà nước, nhà báo, nhiếp ảnh, nhà văn, nhà thơ, thuỷ thủ, lái xe, kỹ sư chế tạo máy, nhân viên trạm bán xăng dầu, giáo viên, nhà nghiên cứu, cán bộ khoa học, người cộng sản, nhà ngoại giao, chủ ngân hàng, nhà tu hành khổ hạnh, bác sĩ, nhà khảo cổ, nhà dân tộc học, báo cáo viên trước Liên Hợp Quốc, một tù nhân... nên mọi người gọi Che là “đứa con yêu thương của vũ trụ”. Năm lên 9 tuổi, lần đầu tiên Che quan tâm đến chính trị khi ông theo dõi cuộc nội chiến Tây Ban Nha và đánh dấu các bước tiến triển quân sự trên bản đồ. Năm 1943. Ernesto học xong trung học phổ thông ở Cordaba và bắt đầu làm bạn với anh em nhà Granado và anh em nhà Ferrer. Năm 1948, Ernesto đăng ký học khoa Y thuộc Đại học Buenos Aires. Năm 1950. Ngày 1 tháng 1. Ernesto đi hơn 4.500km băng qua phía bắc Achentina bằng xe đạp gắn động cơ. Ông sống ở khu người mắc bệnh phong Chanar một thời gian và làm việc trong đội xây dựng xa lộ quốc gia và đội thương thuyền của Achentina. Tháng 1 năm 1952, Che cùng người bạn thân, Alberto Granado, một nhà hóa sinh, thực hiện cuộc hành trình xuyên châu Mỹ La Tinh trên chiếc mô tô Norton 500 phân khối. Trong chuyến đi này, Che đã qua nhiều nước Nam Mỹ, học rất nhiều điều từ cuộc sống và chứng kiến nhiều cảnh đời trái ngược nhau: sự giàu có thừa mứa của những tên tư sản người bản xứ và các ông chủ người Mỹ; đối nghịch lại là tình cảnh khốn khổ bị chà đạp của những người nông dân nghèo khó và thổ dân da đỏ. Ngày 31 tháng 8 năm 1952, Che trở về Buenos Aires để hoàn thành việc học. Sau khi tốt nghiệp đại học năm 1953, Che quyết định thực hiện một cuộc viễn du đi châu Mỹ La tinh lần hai. Trong chuyến đi này, Che đã chứng kiến sự cấu kết giữa chính quyền Panama với Mỹ và sự thống trị của công ty United Fruit ở Costa Rica cũng như sự bất lực của chính quyền dân chủ Jacobo Arbenz không được vũ trang ở Guatemala khi đối phó với cuộc đảo chính do Mỹ giật dây. Ngày 23 tháng 12. Ông gặp Hilda Gadea, một người Peru lưu vong. Ngày 26 tháng 12. Gadea giới thiệu ông với những người Cuba lưu vong trong phong trào 26 tháng 7 . Trong số đó có Nico Lopez, người mà sau đó đã đặt cho ông biệt danh "CHE". Ông làm việc tại một bệnh viện. Năm 1955, Che đến Mexico và ông đã gặp anh em Castro tại đây. Fidel Castro mời ông tham gia cuộc chiến lật đổ chính quyền độc tài Batista, ông đồng ý. Ngày 18 tháng 8. Ernesto kết hôn với Hilda Gadea, lúc đó đang mang thai. Ông kiếm sống bằng nghề chụp ảnh dạo, và có một thời gian ngắn ông làm phóng viên ở Liên Châu Mỹ Vận Hội cho tờ báo Agencia Latina. Ngày 25 tháng 10 năm 1955, Che cùng 81 người lên con tàu Granma rời Mexico thực hiện cuộc đổ bộ vào Cuba. Suốt hơn 3 năm chiến đấu, Che đã chứng tỏ tài năng quân sự kiệt xuất của mình. Ông nhanh chóng chiếm được lòng tin của Fidel Castro. Che là người đầu tiên được phong tư lệnh và đạt ngôi sao vàng trên mũ vào tháng 12 năm 1957, trước cả Raul Castro và Camilo Cienfuegos. Ngày 27 tháng 12, Che quyết định tiến vào thành phố Santa Clara, thủ phủ của tỉnh Las Villas và giành thắng lợi vang dội. Đây là một trong những trận đánh quan trọng nhất của quân du kích. Tháng 1 năm 1959, cách mạng Cuba thành công và những người lính tiến vào thành phố La Habana được chào đón như những anh hùng. Sau cách mạng, Che đã kinh qua những chức vụ quan trọng của chính quyền non trẻ, ban đầu là Thống đốc Ngân hàng quốc gia và sau đó là Bộ trưởng Bộ Công nghiệp. Che cũng thường xuyên thực hiện các chuyến công du tìm kiếm sự ủng hộ cách mạng Cuba từ Liên Xô, các quốc gia châu Á, châu Phi và Đông Âu. Với tư cách là đại diện chính thức của nhà nước Cuba, Che tham gia nhiều cuộc họp tại Liên Hiệp Quốc cũng như các hội nghị của nhiều diễn đàn khác nhau để nói lên tiếng nói không chỉ của người dân Cuba mà còn của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Ngày 21 tháng 1 năm 1959. Hilda Gadea cùng con gái là Hildita Guevara đến Cuba. Họ đồng ý ly hôn. Ngày 2 tháng 6 năm 1959. Ông kết hôn với Aleida March. Tháng 4 năm 1965, Che bí mật rời Cuba đi Công-gô. Trước đó, Che đã viết cho Castro một lá thư từ biệt nổi tiếng. Từ 1965 đến 1967, Che thực hiện sứ mạng quốc tế của mình ở Công-gô và Bô-li-vi-a, Ông tổ chức các đội quân du kích chống lại chính quyền tay sai của Mỹ ở các quốc gia này. Ngày 8 tháng 10 năm 1967, Che cùng hai đồng đội của mình bị quân đội Bô-li-vi-a dưới sự huấn luyện của CIA bắt giữ tại làng La Higuera. 13 giờ 10 phút ngày 9 tháng 10 năm 1967, Che bị hành quyết tại một ngôi trường dưới sự giám sát của nhân viên CIA, Felix Rodriguez. Nơi chôn thi thể của ông được giữ kín trong suốt 30 năm sau đó. Cái chết của Che Guevara được nhà triết học Pháp Jean Paul Sartre tôn vinh là “Anh hùng đương đại vĩ đại nhất”. Năm 1997, di hài Che được tìm thấy tại đường băng gần làng Vallegrande và được đưa về Cuba vào ngày 17 tháng 10 năm 1997. Huyền thoại về người anh hùng Che Guevara được bắt đầu hình thành ngay sau khi ông tử nạn, thậm chí di hài ông cũng trở thành truyền kỳ. Sau khi Che Guevara chết, bọn quân phiệt Bolivia và CIA cắt đôi tay của ông rồi cho người đưa đến Fidel Castro nhằm uy hiếp ông. Còn thi thể Che Guevara cùng thi thể các đội viên du kích khác chúng đem chôn vội vàng vào một ngôi mộ bí mật. Sau mấy lần thay đổi Chính phủ ở Bolivia, mộ của Che dần dần bị quên lãng. Đến tháng 7/1997, người ta đã tìm được mộ của Che, sau khi giám định chính xác, di cốt của Che cùng di cốt của các đội viên du kích được đưa về an táng tại Cuba vào tháng 9 cùng năm. Hiện giờ Che và các đội viên du kích được an táng tại nghĩa trang Santa Clara cách thủ đô La Habana về phía Nam 300km. Tấm gương quên mình vì nghĩa lớn, cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Che đã và đang cổ vũ nhiều thế hệ thanh niên ở khắp nơi trên thế giới. Học giả phương Tây - Ariel Dorfman đã viết: “Đối với những con người không bao giờ theo bước Che, bị chìm đắm trong thế giới đầy hoài nghi yếm thế, sự tự tư tự lợi và nền công nghiệp tiêu thụ điên cuồng này, còn có gì hấp dẫn hơn thái độ khinh bạc của Che đối với những tiện nghi vật chất và những ham muôn tấm thường. Có thể nói rằng, đó là phẩm chất riêng biệt độc đáo của Che và không thể có bản sao thứ hai của anh trong thế giới này, đây là điều khiến anh trở nên cực kỳ quyến rũ”… Nếu có ai hỏi tôi, bạn thần tượng Che à, chắc chắn tôi không phản đối điều đó nhưng đối với riêng cá nhân tôi, tôi chưa bao giờ thần thánh hóa con người Che, là người ai cũng có những ưu, khuyết điểm và với Che cũng thế, nhưng tôi yêu Che ở những đức tính cao đẹp trong con người anh, sống hết mình dấn thân hết mình vì người khác, một con người với ý chí và nghị lực phi thường với những hoài bão lớn lao và không chỉ dừng ở đó, Che dám nghĩ dám làm để thực hiện những hoài bão đó mặc dù Che biết một ngày nào đó không xa cái chết sẽ tìm đến anh. Như trong bức thư Che viết cho cha mẹ: “Cha mẹ kính mến Một lần nữa, con lại cảm thấy những chiếc xương sườn của chú ngựa Rocinante (tên con ngựa của chàng hiệp sĩ Don Quixote - người dịch) dưới chân con. Con lại lên đường với chiếc khiên trên tay... Đây có thể là lần lên đường cuối cùng của con. Con không đi để tìm đến cái chết, nhưng nó là một khả năng hoàn toàn có thể xảy ra với con. Nếu phải như vậy, đây là lần cuối cùng con được ôm cha mẹ. Con luôn yêu quý cha mẹ rất nhiều, chỉ có điều là con không biết phải thể hiện tình cảm đó như thế nào. Cái chết đã làm Che trở thành bất tử, vì ông đã không sợ nó. Ông mãi mãi chiến thắng cái chết Quyết định xử bắn ông do chính Tổng thống Bolivia Barrientos thông qua. Vào lúc 13h30’ ngày 9/10/1967, lệnh được thi hành. Một năm rưỡi sau, ngày 27/4/1969, Tổng thống Barrientos bị chết trong một tai nạn máy bay. Đây là vụ phá hoại, nhưng không tìm được thủ phạm. Barrientos là người đầu tiên trong danh sách những kẻ phải chịu trách nhiệm về cái chết của Che. Số phận thật trớ trêu. Năm 1952, Bolivia sục sôi khí thế cách mạng. Barrientos và Che cùng chung một chiến tuyến. Đối với cả hai người, năm 1952 đó đã trở thành điểm so sánh: một người trở thành chiến sĩ cách mạng, người kia trở thành tướng và sau đó thành tổng thống. Cuộc cách mạng ở Bolivia thắng lợi, nhưng giới quân sự đã giành lấy chính quyền. Sau cuộc cách mạng ở Cuba giành thắng lợi, Che lại tiếp tục cuộc hành trình giải phóng các nước thuộc Mỹ Latinh khỏi ảnh hưởng của Mỹ. Chính vì vậy ông là cái gai trong con mắt của người Mỹ cũng như tay sai của họ. Kẻ thù của ông luôn tìm cách bắt, sát hại ông và chúng đã thành công. Năm 1966, Che đã đến khu vực sông Rio Grande, một căn cứ đã được chuẩn bị cho ông trong trang trại bỏ hoang. Trang trại thuộc về người bạn gái thân thiết của ông, được ông gọi bằng cái tên Nga - Tania. Bà là điệp viên xuất sắc của tình báo Cuba. Tên thật của bà được Che giữ bí mật. Tại đây, Che sống nhờ vào sự giúp đỡ của những người nông dân địa phương. Họ cung cấp thực phẩm và che giấu ông khỏi lính chính phủ. Trong những người này, ông tin cậy vào Onorato Rokhas - người chuyên cung cấp thực phẩm cho ông. Thỉnh thoảng, Che lại khám chữa bệnh cho các con của ông ta. Một lần trong làng xuất hiện một người đàn ông, tên gọi Mario Vargas Salinas. Ông ta là đại úy quân đặc nhiệm Bolivia. Ông đề nghị Rokhas nhận 3 nghìn USD để cung cấp thông tin về đội du kích của Che. Rokhas đồng ý và kể cho Salinas rằng đội du kích của Che đang chuẩn bị vượt sông Rio - Grande. Đó là ngày 31/8/1967. Và Rokhas đã trở thành nạn nhân thứ hai trong chuỗi những cái chết bí ẩn. Hai năm sau ngày phản bội Che, ông ta bị bắn chết trên đường phố bởi một phát súng vào giữa mặt. Không tìm ra hung thủ. Ngày 9/10/1967, Che nằm lại Bolivia, không rời La Igera nữa. Khi còn sống, ông là người lạ đối với dân làng. Sau cái chết, ông đã trở thành tài sản duy nhất của họ, thành linh hồn của La Igera. http://che-vietnam.com
Huyền thoại

Ý kiến bạn đọc__________________________________________________________________________
Napoléon Bonaparte (1769 - 1821)
Alexander Đại đế (356-323TCN)
Kim Nhật Thành - Kim Il Sung(1912-1994)
Thành Cát Tư Hãn (~1162 - 1227)
Abraham Lincoln (1809–1865)
Rosa Luxemburg (1871-1919)
Winston Churchill (1874-1965)
Michael Faraday (1791 - 1867)
Thomas Alva Edison (1847-1931)
Albert Einstein (1879 – 1955)
