Tôn Thất Tùng (1912-1982)
Giáo sư Tôn Thất Tùng sinh ngày 10-5-1912 ở Thanh Hóa nhưng sống thời thơ ấu và niên thiếu ở Huế trong một gia đình hoàng phái tại một ngôi nhà có vườn rộng bao quanh sát bên bờ con sông Hương xanh ngắt, phía trên cầu Bạch Hổ, nhìn sang cồn Dã Viên um tùm cây cỏ nhô lên giữa dòng Hương.CHI TIẾT »
Danh Y Tuệ Tĩnh (1330-?)
Tuệ Tĩnh là danh y Việt Nam đã mở đường cho sự nghiên cứu thuốc nam, xây dựng nền móng cho Y học dân tộc của nước nhà. Ông đã tổng hợp và để lại những bài thuốc kinh nghiệm quý báu cho một số khá nhiều bệnh tật. Ðó là một tài liệu có giá trị lớn cho sự thừa kế và phát huy vốn cũ y dược của nhân dân ta, thật là một cống hiến rất lớn của ông.CHI TIẾT »
Lê Hữu Trác (1720 - 1791)
Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác, thân thế và sự nghiệp, là niềm tự hào của dân tộc ta. Tuy sống cách ta hơn 250 năm, những tư tưởng và phương pháp tư tưởng tiến bộ cũng như thái độ khoa học chân chính của Hải Thượng Lãn Ông vẫn còn là bài học còn tính chất thời sự và rất quý báu đối với chúng ta ngày nay.CHI TIẾT »
Phạm Ngọc Thạch (1909-1969)
Từ bỏ cuộc sống với thu nhập cao hơn bất cứ ông đốc phủ sứ nào để rồi tham gia lãnh đạo kháng chiến, uy tín và nhân cách của ông thu phục được giới trí thức; chiến đấu để rồi hy sinh trong kháng chiến- Bác sỹ Phạm Ngọc Thạch cho tới nay là Bộ trưởng Y tế liệt sĩ duy nhất của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.CHI TIẾT »
Đặng Văn Ngữ (1910-1967)
Giáo sư Đặng Vǎn Ngữ sinh ngày 4/4/1910 tại làng An Cựu ngoại ô thành phố Huế. Nǎm 20 tuổi người thanh niên Đặng Vǎn Ngữ đã đỗ tú tài và tốt nghiệp bác sĩ y khoa nǎm 1937 tại Đại học y khoa Hà Nội. Cuộc đời Ông là một nhân cách, một tài năng được lớn. Những đóng góp to lớn của Ông đã được nhà nước ghi nhận với Giải thưởng Hồ Chí Minh.CHI TIẾT »
Hồ Đắc Di (1900–1984)
Giáo sư Bác sĩ Hồ Đắc Di (11 tháng 5 năm 1900–1984), sinh ra tại Hà Tĩnh[1], quê ở làng An Truyền, xã Phú An, huyện Phú Vang, Thừa Thiên - Huế, là một bác sĩ nổi tiếng ở Việt Nam với nhiều công trình nghiên cứu có giá trị lớn. Ông còn là vị hiệu trưởng đầu tiên trường Đại học Y khoa của nước Việt Nam độc lập.CHI TIẾT »
BS. Trần Duy Hưng (1912 - 1988)
Trần Duy Hưng sinh năm 1912 tại Hà Nội, tham gia hoạt động cách mạng từ tháng 3/1945 và đã từng giữ các chức vụ: Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội các năm 1945-1946 và 1954, khóa I, Thứ trưởng Bộ Nội vụ (4/1947), Thứ trưởng Bộ Y tế (6/1954), Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội từ năm 1955 đến 1977...CHI TIẾT »
Ðỗ Xuân Hợp (1906 - 1985)
Ðỗ Xuân Hợp (1906 - 1985) là một Giáo sư, Bác sĩ, là người đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng danh từ y học nói chung và thuật ngữ giải phẫu nói riêng và là người Việt Nam đầu tiên nhận giải thưởng Testút của Viện Hàn lâm Y học Pháp. Ông được phong quân hàm Thiếu tướng, Anh hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân; Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học - kỹ thuật.CHI TIẾT »
Nguyễn Du (1766–1820)
Nguyễn Du (1766–1820), tên tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ, là một nhà thơ nổi tiếng thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam. Tác phẩm lớn nhất của ông là tập Truyện Kiều dài 3.254 câu, một tập truyện thơ nôm viết theo thể lục bát với ý nghĩa thăng trầm, từ ngữ giai điệu phong phú mà hầu hết người Việt Nam đều biết tới. Ngoài ra những tập Bắc hành tạp lục, Thanh hiên thi tập, Văn tế thập loại chúng sinh của ông cũng rất nổi tiếng.CHI TIẾT »
Út Trà Ôn (1919-2001)
Út Trà Ôn (1919-2001) tên thật là Nguyện Thành Út, sinh năm 1919, tại làng Đông Hậu, huyện Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ, nay thuộc tỉnh Vĩnh Long. Nhiều anh em, bạn bè còn gọi Út Trà Ôn bằng cái tên thân mật “Cậu Mười” hay "Út Mười"(Vì Ông là con út, cũng là con thứ mười). Ông sinh trưởng trong một gia đình khá giả. Ông nội nhiều năm giữ chức chánh hương quản trong làng nên ngay từ thuở nhỏ Út Trà Ôn đã có dịp tiếp xúc với nhạc cổ thông qua những buổi tế lễ mà ông vốn có giọng hát tốt thường được chỉ định làm học trò lễ xướng.CHI TIẾT »
Ngô Tử Hạ (1882-1973)
Từ một trai cày nghèo quê mùa, tín đồ đạo Công giáo, lên Hà Nội làm thuê từ năm 17 tuổi, trở thành một nhà tư bản ngành in nổi tiếng xứ Đông Dương. Cuối cùng ông đã hiến dâng tất cả của cải và sức lực cho cuộc cách mạng của cụ Hồ, tự tay kéo chiếc xe bò đi vận động nhân dân cứu đói.CHI TIẾT »
Nguyễn Văn Tộ & Võ Phái Nam Hồng Sơn
Nguyễn Văn Tộ (1895-1984), còn có tên là Sáu Tộ là võ sư nổi tiếng trong làng võ Hà Nội. Ông là bạn của các bậc tiền bối võ thuật Việt Nam như Ba Cát, Hàn Bái, Cử Tốn. Từ nhỏ ông đã được học võ dân tộc của những người đã dự kỳ thi võ của triều đình Huế, sau đó ông học thêm một số môn phái võ Trung Hoa để bổ sung cho môn võ của mình. Trong suốt cuộc đời, ông đã đóng góp nhiều công sức cho việc truyền bá, giảng dạy võ dân tộc. CHI TIẾT »
Nguyễn Lộc (1912 - 1960)
Võ sư Sáng Tổ Nguyễn Lộc sinh ngày 8 tháng 4 năm Nhâm Tý (1912) tại làng Hữu Bằng, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây (Bắc Việt). Ông lớn lên trong thảm cảnh mất nước, giữa lúc các tư trào cách mạng và phóng đảng đang bành trướng trên đất nước. Một bên, các nhà chí sỉ cách mạng âm thầm vận động, cổ súy tinh thần yêu nước trong quốc dân để thúc đẩy thanh niên vào đường sắt máu cách mạng...CHI TIẾT »
Nguyễn Tế Công (1877-1959)
Nguyễn Tế Công (1877-1959) là tên chính thức được gia đình ghi trên bia mộ. Trong sách báo, ông còn có các tên là Nguyễn Tế Vân tức Yuen Chai-Wan, Tế Mặt rỗ tức Dao Pei Chai, Nguyễn Lão Tứ, Lương Vũ Tế... Ông sinh năm 1877, xuất thân từ một gia đình quyền quý tại Phật Sơn, Quảng Đông, Trung Quốc, là một võ sư môn phái Vĩnh Xuân. Sau định cư tại Việt Nam và trở thành tổ sư môn phái Vĩnh Xuân Việt Nam. CHI TIẾT »
Quách Văn Kế (1897-1976
Quách Văn Kế (1897-1976) là một võ sư Việt Nam, người sáng lập môn phái Lam Sơn Võ Đạo. ông sinh năm 1897 tại Tô Lịch Hà Nội, Ông từng học võ với các võ sư Hàn Bái, Ba Cát, Bảy Mùa. Trong chiến tranh Việt-Pháp, ông từng dạy võ cho Thanh niên Tiền phong và bộ đội Việt Minh. Năm 1949, ông mở võ đường Lam Sơn và từng đảm trách chức vụ Chủ tịch Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam ở Sài Gòn năm 1960.CHI TIẾT »
Lê Văn Bái (1889 - 1928)
Lê Văn Bái (1889 - 1928), hiệu thật là Hàn Bái, vốn là con của một quan lãnh binh dưới thời nhà Nguyễn. Ngoài học võ với cha, ông còn học thêm võ Thiếu Lâm với hai võ sư người Hoa nổi tiếng tại Quảng Châu là Lý Quân và Triệu Quang Chảo. Năm 1918, ông về nước và bắt đầu dạy võ tại Hà Nội. Ngày nay, các thế hệ môn sinh của ông tiếp tục truyền dạy võ thuật của ông dưới tên gọi "Hàn bái Đường". CHI TIẾT »
Bùi Công Hóa (1894-1958)
Trương Thanh Đăng (1895–1985)
Hoàng Đạo Thúy (1900 - 1994)
Lê Thị Hồng Gấm (1951-1970)
Phan Đình Giót (1922 - 1954)
Nguyễn Thị Chiên (1930 - )
Vũ Huyên (1670 - ?)
Tạ Quang Bửu (1910-1986)
Trần Trinh Huy (Công tử Bạc Liêu) (1900 - 1973)
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585)
Bà Huyện Thanh Quan (1805 - 1848)
Bà Triệu (225-248)
Ba Giai
Tú Xuất
| 1 | 2 |
