Ba Giai

Ba Giai tên thật là Nguyễn Văn Giai, năm sinh và năm mất đều không ai rõ, là một nhà thơ châm biếm nổi tiếng vào cuối thế kỷ 19 ở Việt Nam.

Tiểu sử

Tuy không biết chính xác năm sinh và năm mất của Ba Giai, nhưng nhiều nhà nghiên cứu văn học đều cho rằng ông người làng Hồ Khẩu huyện Vĩnh Thuận (Hà Nội), sống vào khoảng thời gian dưới triều Thiệu Trị (1841 - 1847) và Tự Đức (1848 - 1883).

Ba Giai xuất thân trong một gia đình có truyền thống học vấn, mặc dù không đỗ đạt cao. Ông nội và chú ruột đều làm quan huyện thừa. Cha làm nghề thuốc phúc hậu và đức độ nhưng cả cha và mẹ ông đểu mất sớm. Vì vậy Ba Giai lớn lên trong cảnh nghèo khó. Năm 18 tuổi, chú bác muốn ông chăn giữ trâu, nhưng ông không thuận, chỉ muốn dùng tài học để lập thân. Do vậy, ông phải đi gánh thuê để có tiền ăn học.

Bản thân Ba Giai thông minh học giỏi, có tài làm thơ nôm, nhưng gặp lúc nước nhà lâm cảnh loạn lạc, nên ông không đi thi. Về sau Ông đã nghỉ học lập một xưởng in sách tam tự kinh ngay ở trong làng gọi là nhà sách Quảng Văn để sinh sống và có điều kiện học hỏi giao lưu với bạn bè. Ông là người con thứ ba của cụ Nguyễn Đình Báu tên là Nguyễn Văn Giai nên dân làng thường gọi là Ba Giai. Chính tộc phả của dòng họ này là do một người cháu chi trưởng chắp bút, ông viết đề tựa.

Không rõ Ba Giai gặp và kết bạn với Tú Xuất như thế nào, vào lúc nào. Theo tài liệu của ông Lữ Huy Nguyên kể lại trong bản kể về truyện Ba Giai Tú Xuất của mình qua lời kể của giáo sư Nguyễn Tường Phượng thì hai ông thường gặp gỡ rủ nhau chơi bời vào thời gian giữa hai lần Pháp đánh chiếm thành Hà Nội (1872-1882). Lúc đó Ba Giai đang theo học cụ cử Tiến Song Ngô Văn Dạng ở trường Đại Tập Kim Cổ gần ngôi nhà số 7 phố Hàng Bè, nơi thân mẫu của giáo sư buôn bán ở đó. Có lẽ cùng từ quan hệ học hành thi cử mà hai ông kết thân với nhau.

Ba Giai Tú Xuất

“Ba Giai! Một người lãng mạn giang hồ, tinh ma quỉ quái, đã kết đảng với Tú Xuất mà gây nên không biết bao nhiêu truyện quái ác, tức cười. thậm chí đi đến dâu thiên hạ cũng phải gờm mặt mà đặt cho cái tên là “Quái kiệt Hà Thành”, là “Tràng An tứ quỉ”! (trang 9). Sách còn liệt kê những ‘chức’ giang hồ mã thượng và Ba Giai phải chăng thuộc phường thảo khấu nhưng tại sao người người đọc truyện vẫn ‘mê’ bởi tính chọc cười từ quan lại đến sư vãi… rất trí tuệ của ông.

Còn Tú Xuất lại là một nho sĩ ‘dòng dõi trâm anh, học vấn uyên bác, biện luận hùng hồn, trí mưu mẫn tiệp như thế mà lại không chịu lập lấy công danh để rạng rỡ môn nha, hiển vinh thê tử? … Cái đó chẳng qua ở trong còn nhiều ẩn tình khiến cho ông phải chán đời, mà liều lĩnh qua loa cho hết kiếp. Vậy nếu bà con ai không xét kỹ mà vội buộc tiếng không hay, thì thực là oan cho ông lắm”.

Sự kết hợp giữa Ba Giai và Tú Xuất đã để lại rất nhiều giai thoại về các chuyện nghịch ngợm dân chúng đồn đại là các ông chẳng từ một đối tượng nào. Từ quan tổng đốc, tri phủ tri huyện, chánh tổng lý hương, hào lý ở địa phương đến những người buôn bán ở chợ tỉnh chợ quê. Hễ cứ thấy họ nghênh ngang cậy tiền, cậy quyền thế để ức hiếp kẻ khác yếu hơn mình, ngứa mắt là hai ông chọc ghẹo gây cười để làm nhục họ cho bõ ghét. Thế là Ba Giai trở thành một cặp bài trùng với Tú Xuất. Từ việc căm ghét bọn chó săn tay sai, nịnh bợ Tây dùng lời thơ trào lộng chế diễu chúng, Ba Giai đã cùng Tú Xuất biểu lộ thái độ bất bình, không chấp nhận cái trật tự xã hội đó bằng trí tuệ theo cách riêng của mình để đánh gục uy thế của chúng bằng cách phơi trần bản chất và bộ mặt thực của chúng ra trước đông đảo quần chúng. Các trò nghịch ngợm bằng trí thông minh đầy chất hài thể hiện qua từng câu nói, lối nghĩ, lối hành động ấy (trừ một số truyện nhảm nhí thô tục các soạn giả gán ghép vào sau này) khiến ta liên tưởng đến các truyện Trạng Quỳnh.

Hà Thành Chính Khí ca

Theo lời truyền tụng trong dân gian và ý kiến của một số nhà nghiên cứu, Ba Giai không chỉ nổi tiếng với các bài thơ châm biếm (đối tượng chính là các quan lại tham nhũng, các người trọc phú) mà ông còn là tác giả của tác phẩm Hà Thành Chính Khí ca. Bài thơ gồm 140 câu lục bát, được sáng tác sau khi Hà Nội bị quân Pháp xâm chiếm ngày 25 tháng 4 năm1882.

Tác phẩm này, ngoài 6 câu đầu dùng để mở luận về chính khí của trời đất, của bậc nghĩa sĩ trung thần và 14 câu kết để người viết hướng về nhà vua, tỏ lòng kỳ vọng, số câu còn lại có thể chia làm hai phần.

Phần trên ca ngợi gương hy sinh lẫm liệt của Hoàng Diệu, phần dưới tác giả tỏ nỗi căm giận những viên quan như đề đốc Lê trinh, tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, án sát Tôn Thất Bá…

Giọng thơ đầy cảm khái và bi tráng như đoạn nói về Hoàng Diệu:

...Một cơn gió thảm mưa sầu, 
Đốt nung gan sắt, giãi dầu lòng son, 
Chữ trung còn chút con con, 
Quyết đem gởi cái tàn hồn gốc cây. 
Trời cao biển rộng đất dày, 
Non Nùng sông Nhị chốn nầy làm ghi! 
Thương thay trong buổi gian nguy, 
Lòng riêng ai chẳng thương vì người trung! 
Rủ nhau tiền góp của chung, 
Rước người ra táng ở trong học đường. 
Đau đớn nhẽ, ngẩn ngơ dường, 
Tả tơi thành quách, tồi tàn cỏ hoa... 
Có chổ mỉa mai sâu sắc như đoạn nói về những viên quan tham nhũng, bất tài, hèn nhát:
Long thành thất thủ hai phen, 
Kho tàng hết sạch, quân quyền dời tan. 
Đổi thay trải mấy ông quan, 
Quyên sanh tựu nghĩa, có gan mấy người? 
Trước quan Võ hiển khâm sai 
Sau, quan Tổng đốc một vài mà thôi. 
Ngoài ra võ giáp văn khôi, 
Quan, bào, trâm, hốt nhác coi, ngỡ là... 
Khi bình làm hại dân ta, 
Túi tham vơ nhặt chẳng tha miếng gì. 
Đến khi hoạn nạn gian nguy, 
Mắt trông ngơ ngác, chơn đi gập ghinh...

Viết về Hà Nội thất thủ lần thứ hai có nhiều bài như: Điếu Hoàng diệu tuẫn tiết, Hà Thành hiểu vọng, Hà Thành thất thủ, Hà Thành thất thủ ca ( dài 262 câu lục bát )[1] Nhưng chỉ có Hà Thành Chính Khí ca là được lưu truyền mãi.

GS Phạm Thế Ngũ viết:

"Hà Thành Chính Khí ca" về sau được truyền tụng hơn cả, phần vì cây bút nôm giản dị và diêu luyện của tác giả, phần vì lòng trung trực yêu chính khí, ghét gian tà đã bộc lộ trong lời lẽ. Thật chẳng kém chi bài Chính Khí ca của Văn Thiên Tường đời Tống xưa..\'[2]

G.S Thanh Lãng cũng đã đưa ra nhận xét:

Với một lối văn rõ ràng, giản dị, cảm động, hùng hồn. Nguễn Văn Giai chỉ ra cái hèn nhát của bọn buôn dân bán nước, cốt đánh đổi cái “chánh khí” của các trung thần, nghĩa sĩ. 
Ở đây, tác giả đề cao cái triết lý Anh hùng theo Nho giáo, nghĩa là dù ở đâu và lúc nào cũng phải giũ được khí phách của con người quân tử, như tinh hoa của trời đất tỏa biến ra muôn vật. 
"Chính Khí ca" có thể xem như một bài hịch tướng sĩ, để cổ võ phong trào kháng chiến….Chính khí ca còn bộc lộ tâm lý và sức phản ứng của giới sĩ phu đối với thời cuộc: hai phe chủ hòa và chủ chiến đang xung đột nhau và ông đứng hẳn về hàng ngũ thứ hai, quyết dùng võ lực để đánh đuổi xâm lăng, thi hành chánh sách bất hợp tác để tỏ lòng căm phẫn..[3]

Chú thích

  1. Tất cả đều không biết tên tác giả
  2. Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, phần văn học hiện đại 1862-1945, Quốc học Tùng thư, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản, tr.36
  3. Bảng lược đồ Văn học Việt Nam, quyển hạ ( Tài liệu giáo khoa, Đại học Văn khoa Sài Gòn, NK 1966-1967 ), NXB Trình Bày, tr.60-61

Ý kiến bạn đọc__________________________________________________________________________

[Quay lại]
Share |


CÁC BÀI VIẾT KHÁC
  • Bookmark & Share: 
  • Share |
  • Tầm nhìn của chúng tôi là một thế giới ở đó mọi người đều có cơ hội phát huy hết khả năng của mình