Phạm Ngọc Thạch (1909-1969)

Từ bỏ cuộc sống với thu nhập cao hơn bất cứ ông đốc phủ sứ nào để rồi tham gia lãnh đạo kháng chiến, uy tín và nhân cách của ông thu phục được giới trí thức; chiến đấu để rồi hy sinh trong kháng chiến- Bác sỹ Phạm Ngọc Thạch cho tới nay là Bộ trưởng Y tế liệt sĩ duy nhất của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Nhớ bác sỹ Phạm Ngọc Thạch - Bộ trưởng liệt sỹ duy nhất

BS. Phạm Ngọc Thạch

Từ bỏ cuộc sống với thu nhập cao hơn bất cứ ông đốc phủ sứ nào, tham gia lãnh đạo kháng chiến, uy tín và nhân cách của ông thu phục được giới trí thức; chiến đấu để rồi hy sinh trong kháng chiến- Bác sỹ Phạm Ngọc Thạch cho tới nay là Bộ trưởng Y tế liệt sĩ duy nhất của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Là một người trí thức giác ngộ cách mạng và tham gia hàng ngũ của Đảng, Bộ trưởng Y tế Phạm Ngọc Thạch đã hiến dâng cả tâm trí và tài năng của mình cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, và đã hy sinh phấn đấu đến hơi thở cuối cùng ngay ở tiền tuyến chống Mỹ cứu nước.

Ông sinh ngày 7/5/1909 tại Quảng Nam. Cha ông là nhà giáo Phạm Ngọc Thọ, mẹ thuộc dòng hoàng tộc Huế. Phạm Ngọc Thạch thông minh, học giỏi. Ông đậu bác sĩ tại Pháp năm 1934, lấy vợ “đầm”. Về nước, ông không làm cho nhà nước mà mở phòng khám tư, rất đông khách. Thu nhập của ông cao hơn bất cứ ông đốc phủ sứ nào thời đó. Ông có thừa điều kiện để vinh thân, phì gia trong vòng tay của “nước mẹ Đại Pháp”.

Nam 1945, đốc tờ Thạch là Thủ lĩnh Thanh niên Tiền phong ở Nam Bộ. Sau Tổng khởi nghĩa tháng tám 1946, ông là Bộ trưởng Y tế đầu tiên trong chính phủ lâm thời của nhân dân Việt Nam. Sau ngày thực dân pháp gây hấn xâm lược Nam Bộ lần thứ hai (23/9/1945), ông là chủ tịch ủy ban kháng chiến khu Sài Gòn- Gia Định. Từ năm 1959 ông là Bộ trưởng Y tế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 7/11/1968 ông hy sinh trong một căn nhà tranh giữa miền chiến khu Đông Nam bộ thuộc tỉnh Tây Ninh khi cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân hai miền còn diễn ra rất quyết liệt, vì viêm phúc mạc mật và bị sốt rét ác tính. Ông hy sinh khi thân chinh tới mặt trận trực tiếp cứu chữa thương binh, tìm cách trị bệnh cho nhân dân và chiến sĩ ta.

Cuộc đời bác sĩ Phạm Ngọc Thạch gắn bó với dân tộc, với nhân dân đã trở thành huyền thoại. Giáo sư thạc sĩ Andrê Rutxen khâm phục coi ông là: “Một người hiền cao cả”. (Association medicine Franco-Vietnamiene tháng 3.1969).Sau ngày 9.3.1945, Nhật bất ngờ yêu cầu bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đứng ra tập hợp thanh niên trong một tổ chức tương tự như luật sư Phan Anh ở Huế. Nhật không hề biết rằng Phạm Ngọc Thạch là cộng sản chính gốc. Anh đã hoạt động trí vận (vận động trí thức) tại Sài Gòn từ năm 1943. Được sự đồng ý của tổ chức của Đảng tại Sài Gòn hồi đó là Xứ ủy Nam Kỳ do đồng chí Trần Văn Giàu phụ trách, Phạm Ngọc Thạch đã nhận nhiệm vụ nguy hiểm đó. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là thủ lĩnh phong trào, Nhật vẫn không biết rằng ông bác sĩ uy tín rất lớn này là Đảng viên cộng sản. Bên cạnh Phạm Ngọc Thạch khi đó còn có: giáo sư Lê Văn Huấn, kỹ sư Kha Vạn Cân, luật sư Thái Văn Lung, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, nhóm sinh viên Huỳnh- Mai- Lưu (Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước)...

Image
Bộ trưởng Y tế Phạm Ngọc Thạch chụp tại Cây đa Tân Trào

Thanh niên tiền phong phát triển rất nhanh. Trong vòng 6 tháng số lượng Thanh niên tiền phong tại Sài Gòn lên tới 80.000 người. Cả Nam Bộ có tới hơn 1 triệu thanh niên hăng hái hoạt động trong tổ chức này. Thanh niên tiền phong sắp xếp đội ngũ, hoạt động quyên góp giúp cứu đói miền Bắc, trừ dịch tả ở miền Nam tuyên truyền đấu tranh giành độc lập tự do. Chưa bao giờ có một tổ chức (do Đảng lãnh đạo) lớn và hoạt động tích cực sôi nổi như vậy ở vùng Sài Gòn- Gia Định và cả Nam Bộ. Khẩu hiệu của Thanh niên Tiền phong khi tập hợp hô “Thanh niên: đồng thanh đáp “Tiến”. Cờ đỏ sao vàng, trang phục đồng loạt áo sơmi trắng ngắn tay, quần soọc xanh., vũ khí mang theo códao găm, gậy tầm vông và cuộn dây thừng. Thanh niên tiền phong có tiếng nói là tờ báo “Tiến” do Mai Văn Bộ làm chủ bút. Bài ca chung là “Lên đàng” của Lưu Hữu Phước. Kết quả đó có công đóng góp rất lớn của người thủ lĩnh Phạm Ngọc Thạch. Ông có sức lôi cuốn tập hợp thanh niên rất lớn. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch cùng xuống đường tuần hành với thanh niên, cùng hát vang “Lên đàng”, “Tiếng gọi thanh niên”. Hai cuộc mít tinh tuyên thệ của thanh niên tại vườn Ông Thượng đã tập hợp được số lượng quần chúng tới 50.000 người. trong số những buổi mít tinh như vậy, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là một diễn giả xuất sắc với tài hùng biện hiếm có. Hàng chục vạn thanh niên Nam bộ đã nghe như nuốt từng lời ông. ít có một diễn giả nào nói với họ những lời hào sảng như vậy giữa thanh thiên bạch nhật, trong không khí của một cao trào đấu tranh đang dâng tới đỉnh điểm. Tổ chức Thanh niên Tiền phong là lực lượng có vai trò rất lớn trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám ở Sài Gòn- Chợ Lớn và nhiều tỉnh Nam Bộ khác. Đây là lực lượng xung kích của cách mạng được sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, luôn đi đầu trong các hoạt động cách mạng. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là người anh kính trọng và thân yêu của cả một thế hệ trẻ hăng say trong không khí cách mạng tiến lên giành chính quyền.

Bác Hồ gặp BS. Phạm Ngọc Thạch tại tân Trào

Kháng chiến bùng nổ, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch ra bưng biền tham gia lãnh đạo kháng chiến. Ngay cả khi ông không còn ở Sài Gòn, uy tín và nhân cách của ông vẫn thu phục được giới trí thức, không một ai trong số bạn bè đồng nghiệp của ông trở thành “người xấu” đối với kháng chiến. Ngay từ trong kháng chiến chống Pháp đến khi hòa bình lặp lại, rồi khi ở cương vị lãnh đạo ngành y tế, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch luôn luôn tâm huyết tìm cách phát triển nền y học Việt Nam theo con đường của Việt Nam. Ông luôn bảo vệ một cách thuyết phục những quan điểm của mình: xây dựng nền y học Việt Nam theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “khoa học- dân tộc- đại chúng”. Ông trân trọng sưu tầm, nghiên cứu, thực nghiệm để nâng cao rồi phổ biến những phương thuốc phòng bệnh và chữa bệnh từ những kinh nghiệm dân gian, từ những ông lang, ông ké, bà mế. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch coi thực tiễn là tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hậu quả của các phương thuốc phòng và chữa bệnh. ở ông, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Trên đường ra Việt Bắc năm 1953, ông yêu cầu tiêm thử cho ông loại thuốc Philatốp chế từkiếng cấy và dầu lạc theo sáng kiến của bác sĩ Nguyễn Thiện Thành. Sau này ông tiếp tục đi sâu nghiên cứu dùng Philatốp để trị sốt rét mãn tính cho các cán bộ miền Nam ở Viện A; trị ho gà cho trẻ em bằng cách tiêm Philatốp phối hợp với Novocain phong bế vùng thận và vùng xương sườn số 6 để điều trị bệnh loét dạ dày, hành tá tràng...; dùng Philatốp kết hợp với Streptomixin và Novocain phong bế huyệt phổi, sau đó kết hợp với uống Rimifon để trị lao phổi. Phương pháp dùng Philatốp của ông đỡ tốn kém lại có kết quả nhanh chóng được phổ biến tới tuyến xã. Đặc biệt là công trình nghiên cứu phòng bệnh lao bằng vacxin BCG chết rất phù hợp với điều kiện Việt Nam còn nghèo không đủ các thiết bị bảo quản lạnh để dùng vacxin BCG sống một cách rộng rãi.

Hàng chục triệu người đã được tiêm phòng bằng loại vacxin ấy. Số người mắc bệnh giảm hẳn, số người mắc các loại lao cấp tính, lao màng não cũng giảm hẳn. Hơn 60 viện nghiên cứu ở 40 nước đã xin bác sĩ Phạm Ngọc Thạch trao đổi tài liệu về phương pháp dùng BCG chết. Tạp chí Tuberenlosis của Hội Nghiên cứu về bệnh phổi và bệnh lao nước Anh đã viết: “Đối với các nước đang phát triển, phương pháp phòng và chống bệnh lao của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là phương pháp tốt nhất.” Một trang mới trong lịch sử đấu tranh chống căn bệnh xã hội vốn được coi là tứ chứng nan y được mở ra dưới sự dẫn dắt của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch. Tất cả những công trình nghiên cứu và ứng dụng của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đều xuất phát từ tấm lòng yêu thương con người sâu sắc của ông.

Phạm Ngọc Thạch là một nhà cách mạng, là Viện trưởng Viện chống lao, là Bộ trưởng Y tế..., nhưng trước hết ông là một người hết sức yêu thương con người, quý trọng sức khỏe của con người. Có người đã đặt câu hỏi: “Cái gì đã làm nên bản lĩnh Phạm Ngọc Thạch”, sau khi biết rằng ông đã từ bỏ nhịp cầu vàng son dẫn ông tới vinh quang, phú quý cho riêng mình, để đi cùng với nhân dân giành và giữ độc lập tự do. Chính lòng yêu thương con người đã đưa ông chọn học nghề y và sau này để phục hồi những quyền con người trong cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Cho đến phút cuối cùng của cuộc đời, khi ngã xuống giữa vùng chiến khu trong lúc cuộc chiến đấu vẫn còn đang rất ác liệt, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch vẫn không ngừng giành tâm trí cho sự nghiệp VÌ CON NGƯỜI của ông. Tên tuổi và sự nghiệp của ông vẫn sống mãi. Bạn bè đồng nghiệp, học trò của ông, bệnh nhân của ông, và nhân dân vẫn nhớ mãi về một thầy thuốc cách mạng, một nhà khoa học đã cống hiến cả cuộc đời mình cho cuộc đấu tranh vì sức khỏe, hạnh phúc và tự do của nhân dân, của dân tộc.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết lời điếu trong lễ truy điệu ông: “Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Bộ trưởng Bộ Y tế của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Anh hùng lao động là một chiến sĩ kiên cường của sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, anh dũng, thông minh, giàu năng lực tổ chức và tính sáng tạo. Là một người trí thức giác ngộ cách mạng và tham gia hàng ngũ của Đảng từ hai mươi năm nay, đồng chí Phạm Ngọc Thạch đã hiến dâng cả tâm trí và tài năng của mình cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, và đã hy sinh phấn đấu đến hơi thở cuối cùng ngay ở tiền tuyến chống Mỹ cứu nước.”Ông chẳng để lại gì cho riêng mình nhưng những gì ông để lại cho nhân dân, cho đất nước thật lớn lao.

Ngô Vương Anh

Bộ Trưởng Phạm Ngọc Thạch với ngành Y tế nhân dân:

Nǎm 1958 khi ông trở về phụ trách ngành y tế, sức khỏe của nhân dân ta suy giảm rất nhiều, nhất là ở những vùng mới được giải phóng tình hình bệnh tật rất nghiêm trọng: bệnh lao chiếm tới 4 % dân số, bệnh sốt rét lan tràn ở miền núi với tỷ lệ người mắc 80-90% làm rất nhiều người chết, người phong lang thang khắp nơi thiếu nơi chạy chữa, bệnh mắt hột làm hàng triệu người mù loà, chưa có cơ sở y tế chǎm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em, tỷ lệ trẻ em chết bệnh rất cao, nạn hữu sinh vô dưỡng phổ biến trong xã hội, các dịch bệnh như dịch tiêu chảy, thổ tả, thương hàn, đậu mùa, sởi, ho gà, bạch hầu..., các bệnh lây theo đường tình dục như giang mai, lậu, hoành hành khắp nơi với tỷ lệ người mắc và người chết rất cao, tuổi thọ trung bình của người dân chưa tới 40...

Ngành y tế nước ta đã phát triển mạnh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đáp ứng có hiệu quả yêu cầu chǎm sóc sức khỏe nhân dân trong các vùng tự do, nhưng trước nhiệm vụ mới nặng nề hơn phải quản lí và chǎm sóc sức khỏe cho cả nửa đất nước hoàn toàn giải phóng thì còn yếu và thiếu.

Quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, dựa vào sự ưu việt của chế độ ta, vào điều kiện thực tế của ta, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã tìm ra con đường thích hợp nhất, hiệu quả nhất, xây dựng nền y tế nhân dân, xây dựng 5 phương châm nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng và phát triển ngành kết hợp chặt chẽ chính trị và chuyên môn, tư tưởng và tổ chức, phòng bệnh và chữa bệnh, quán triệt phương châm phòng bệnh là chính, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại, đông y và tây y, kết hợp y và dược... trong công tác phòng và chữa bệnh, xây dựng mạng lưới y tế từ trung ương đến xã và hợp tác xã, xây dựng y tế nông thôn, tổ chức và thực hiện có hiệu quả công tác phòng chống dịch bệnh, sản xuất vaccin, tiêm chủng toàn dân, dấy lên trong cả nước phong trào "vệ sinh yêu nước", vệ sinh phòng bệnh, xây dựng các công trình vệ sinh - giếng nước, hố xí, nhà tắm, tổ chức và triển khai các cuộc vận động thực hiện phong trào bảo vệ bà mẹ trẻ em, đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ, tổ chức sản xuất thuốc men, dụng cụ trang thiết bị y tế... giải quyết hàng loạt những vấn đề cơ bản của sự nghiệp y tế, thanh toán những bệnh tật, dịch bệnh do chế độ cũ để lại, bảo vệ, chǎm sóc và tǎng cường có hiệu quả sức khỏe nhân dân. Chỉ trong vòng 3 nǎm, đến nǎm 1958 chúng ta đã chiến thắng được hai dịch bệnh lớn tồn tại đã bao đời là đậu mùa và dịch tả. Chưa đầy 10 nǎm sau mọi dịch bệnh lớn đã bị đẩy lùi: sởi, ho gà, bạch hầu, uốn ván... giảm hẳn, sốt rét, thương hàn không còn phát triển thành dịch nữa, mắt hột được thanh toán, bại liệt được giảm thiểu, người bệnh phong, bệnh lao được tập trung trong các nhà điều dưỡng, các bệnh viện chuyên khoa để chạy chữa và phục hồi chức nǎng, các bệnh giang mai, lậu... được ngǎn chặn để không phát sinh trường hợp mới, các ổ dịch, ổ lây nhiễm bị triệt phá, người mắc bệnh cũ được điều trị tích cực, khắc phục các di chứng, mạng lưới y tế phát triển rộng khắp từ trung ương xuống đến các bản làng hẻo lánh nhất, tổ chức y tế cơ sở được thành lập có từ 3-5 cán bộ y tế bao gồm nữ hộ sinh, thầy thuốc đông y, y sĩ hoặc y tá do dân nuôi, xã hoặc hợp tác xã đảm nhiệm, chi trả mọi chi phí, thuốc men, trang thiết bị, mạng lưới y tế nông thôn, niềm tự hào lớn của sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành y tế, được tạo lập, hoạt động có hiệu quả, nhờ đó công tác chỉ đạo phong trào vệ sinh, phòng chống dịch bệnh, tiêm chủng phòng dịch có thể tiến hành rất kết quả ngay tại cơ sở. Trên cơ sở mạng lưới y tế chung đó, mạng lưới chống lao, mắt hột, sốt rét, ba tai họa xã hội lớn nhất của đất nước cũng đã được xây dựng, hệ thống bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh được phát triển, từng bước lớn mạnh, các bệnh viện tuyến trung ương được mở rộng, nâng cao nǎng lực kĩ thuật, nhiều viện, bệnh viện chuyên khoa được thành lập là cơ sở cho những thành tựu về công tác chǎm sóc sức khỏe nhân dân trong các lĩnh vực này.

Công việc xây dựng ngành đang tiến hành rất tốt đẹp thì cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước bùng nổ, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch lại cùng Đảng đoàn và lãnh đạo Bộ Y tế tổ chức lại ngành phù hợp với điều kiện khó khǎn, ác liệt của cuộc chiến đấu mới, tiếp tục các sự nghiệp trên, xây dựng ngành trong điều kiện mới của cuộc chiến tranh, đa khoa hóa, ngoại khoa hóa cán bộ, đào tạo và bồi dưỡng không ngừng về mọi mặt đội ngũ cán bộ y tế. Bất cứ nơi nào địch đánh phá, nơi đó tổ chức y tế có thể giải quyết mọi vấn đề của công tác cấp cứu chiến thương, xây dựng 4 tuyến điều trị, phát triển mạnh mẽ mạng lưới y tế, đưa kỹ thuật xuống tuyến dưới, giải quyết một cách tốt đẹp nhất mọi mặt của công tác bảo vệ, chǎm sóc sức khỏe nhân dân và các lực lượng vũ trang, hết lòng hết sức chi viện cho y tế Miền Nam.

Nǎm 1968 hệ thống y tế ở miền Bắc cơ bản đã vững chắc. ở Miền Nam chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai chuyển sang giai đoạn mới ngày càng ác liệt hơn, hi sinh tổn thất nhiều hơn nhưng chiến thắng cũng nhiều hơn, vang dội hơn. ở tuổi 59, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch lại thiết tha xin vào chiến trường Miền Nam xây dựng và phát triển ngành và đã hy sinh anh dũng trong khi làm nhiệm vụ.ông đã sớm đi sâu vào chuyên khoa này trong thời gian học cũng như khi đã ra là việc ở Pháp cũng như ở Sài Gòn, là hội viên độc nhất ở Đông Dương của Hội Nghiên cứu về Lao của Pháp từ 1936, là người sáng lập và Viện trưởng đầu tiên của Viện Chống Lao Việt Nam, ủy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp Chống Lao Thế giới, là người có công lớn nhất xấy dựng chuyên khoa, là người thầy lớn nhất của chuyên khoa lao-bệnh phổi.ở các xã đã hình thành tổ bệnh nhân, một hình thức sinh hoạt của bệnh nhân để quản lí bệnh nhân, giúp đỡ nhau và kiểm tra lẫn nhau trong điều trị lâu dài dưới sự quản lí của trạm chống lao (xana) xã. Xana xã có nhiệm vụ chữa bệnh lao tại trạm hay tại nhà, kiểm tra việc thực hiện tiêm phòng BCG, theo dõi và tiêm phòng BCG cho các gia đình bệnh nhân, quản lí toàn diện việc chữa cũng như phòng bệnh lao cho cả bệnh nhân và gia đình họ. ở những nơi làm tốt chỉ trong vòng 4 nǎm hiệu quả của công tác phòng chống bệnh lao do các xana mang lại thấy rất rõ. Các trạm xá xã cũng là nơi tập trung và cách ly được những thể lao nặng khỏi gia đình, tách nguồn lây lao ra xa cộng đồng, từng bước khống chế bệnh lao và bước đầu giảm thiểu lao trẻ em.

Đánh giá những đóng góp to lớn của Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch trong việc xây dựng và phát triển nền y học, y tế nhân dân, nhà nước ta đã nêu: đứng trước rất nhiều vấn đề khó khǎn và phức tạp của việc bảo vệ sức khỏe của nhân dân và bộ đội, đồng chí Phạm Ngọc Thạch, thấm nhuần những tư tưởng và tình cảm lớn của Đảng và phát huy sức mạnh vĩ đại của quần chúng đã cố gắng giải quyết những vấn đề đó một cách cơ bản, có hiệu quả và kịp thời với khả nǎng và phương tiện hiện có của chúng ta. Đồng chí Phạm Ngọc Thạch đã đã nhìn thấy tất cả những bệnh tật hiểm nghèo, di sản của chế độ phong kiến và thực dân cần thanh toán nhanh chóng và tận gốc; đồng chí đã tìm tòi và ra sức phát huy vốn cổ truyền rất quí của dân tộc về y và dược, đã cố gắng vận dụng những hiểu biết, những thành tựu mới nhất của y học thế giới, của y học các nước XHCN cũng như y học các nước khác... Cùng với tập thể lãnh đạo Bộ và đông đảo cán bộ, nhân viên trong ngành, đồng chí Phạm Ngọc Thạch đã tổ chức tiêm chủng nhằm bài trừ và phòng ngừa các bệnh tật, di sản của thời trước; tổ chức phong trào vệ sinh yêu nước rộng khắp ở Miền Bắc; tổ chức mạng lưới y tế từ trung ương cho đến hợp tác xã, khu phố, xí nghiệp và mạng lưới cứu thương rất có hiệu quả trong cuộc chiến tranh chống Mỹ; tổ chức cuộc vận động bảo vệ bà mẹ và trẻ em với những thành tích tốt đẹp ngay trong thời chiến; tổ chức việc đào tạo và không ngừng bồi dưỡng về mọi mặt đội ngũ cán bộ y tế đủ sức giải quyết những vấn đề quan trọng nhất và cấp bách nhất của việc bảo vệ sức khỏe cho nhân dân và lực lượng vũ trang trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh cực kì dã man, tàn bạo của đế quốc Mỹ. Đó là những thành tựu rất quí báu và đẹp đẽ trong biết bao thành tựu, bông hoa của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc mà nhân dân ta rất tự hào và nhiều bè bạn ta khắp nơi hết lòng khen ngợi." (Phạm Vǎn Đồng).

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch với chuyên ngành Lao và Bệnh phổi:

Phạm Ngọc thạch là một trong những thầy thuốc chuyên khoa lao đầu tiên ở Việt Nam.

Sau kháng chiến chống Pháp, chúng ta tiếp quản một xã hội dầy rẫy bệnh tật trong đó bệnh lao có tỷ lệ mắc tới 4% dân số. Chế độ cũ không hề quan tâm tới việc phòng chống bệnh lao. Công tác chống lao trong xã hội cũ gần như phó mặc cho các tổ chức từ thiện, các bà sơ, người bệnh tự lo. Trong cả nước chỉ có 3 dispensaire (trạm chống lao) để làm công tác tuyên truyền nhiều hơn làm công tác chống lao. Về chữa bệnh, cả miền Bắc chỉ có một chuyên khoa lao nhỏ ở Bệnh viện Bạch Mai là cơ sở giảng dạy của trường đại học y khoa (không kể 2 phân viện 71 và 74 do ta mới xây dựng). Tỷ lệ lao chết rất cao, nǎm 1942 lên đến 560/100 000 dân, bằng tỷ lệ chết của các nước châu Âu thời trung cổ, cao hơn cả tỷ lệ chết thời kỳ Nga hoàng (300 trong 100 000 người). Đến nǎm 1954 tỉ lệ này cũng chưa thay đổi được bao nhiêu. Hàng nǎm khi đó cả nước có hàng trǎm nghìn người chết vì bệnh lao. Đội ngũ cán bộ chuyên khoa lao lại quá ít ỏi, cả nước vẻn vẹn không quá 10 người. Riêng Viện Chống Lao khi đầu thành lập chỉ có 3 bác sĩ, 1 dược sĩ, 1 phòng xét nghiệm nhỏ với 2 kính hiển vi cổ. Trên cái nền vô cùng khó khǎn đó bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã bắt đầu công tác chống lao với việc thành lập Viện Chống Lao từ ngày 24 tháng 6 nǎm 1957, trở thành trung tâm nghiên cứu và tổ chức chống lao trong nước, trung tâm đào tạo huấn luyện bổ túc cán bộ, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, tuyên truyền giáo dục phòng lao. Bộ chỉ đạo công tác chống lao qua hoạt động của Viện do ông trực tiếp làm viện trưởng. Ông đã xây dựng cho chuyên khoa một đường lối chống lao đúng đắn, đường lối nghiên cứu khoa học thực tiễn, phong phú, đa dạng, một hệ thống tổ chức, chỉ đạo, một mạng lưới chống lao hoàn chỉnh dựa vào mạng lưới chung của toàn ngành y tế, đã chǎm lo đào tạo một đội ngũ những người làm công tác chống lao đông đảo, có nhiệt tình và có khả nǎng, tạo nên những nhân tố quyết định cho sự thành công của công tác chống lao ở nước ta đến tận ngày nay.

Từ nǎm 1960, công tác chống lao đã đến được các cơ sở y tế ở nông thôn, thành thị cũng như miền núi, đến hầu hết mọi xã, thôn, bản.

Hệ thống mạng lưới chống lao huyện cũng được xây dựng vững chắc với trạm chống lao hay tổ chống lao huyện. Các tỉnh có trạm chống lao tỉnh. Tại những tỉnh lớn trạm chống lao tỉnh có các bộ phận X quang, vi trùng, điều trị ngoại trú và một bệnh viện từ 100-500 giường. Tại những tỉnh nhỏ máy X quang dùng chung với bệnh viện đa khoa nhưng trạm vẫn có riêng 10-20 giường để điều trị cấp cứu và phục vụ công tác nghiên cứu theo dõi. Mỗi trạm chống lao tỉnh có kế hoạch chống lao cho tỉnh mình, bao gồm những chỉ tiêu về tiêm phòng lao bằng BCG cho sơ sinh, trẻ em và người lớn, về số lượng bệnh nhân điều trị ngoại trú tại các trạm trong tỉnh cũng như trong bệnh viện, một chương trình nghiên cứu khoa học chủ yếu về dịch tễ học.

Từ 1961-1968 đã tiêm BCG phòng lao và BCG tái chủng cho 20triệu lần/18 triệu dân. Như vậy hầu như đại đa số nhân dân miền Bắc đã được phòng lao. Việc điều trị chủ yếu tổ chức tại nhà. Nǎm 1964 hơn 11 vạn bệnh nhân lao đã được điều trị ngoại trú với hồ sơ, sổ sách theo dõi chặt chẽ. Nǎm 1964 toàn miền Bắc có 6 bệnh viện lao, 55 trạm chống lao tỉnh, thành phố, thị trấn, 240 trạm chống lao xã, 61 trạm an dưỡng tại các xí nghiệp, cơ quan, trường học. Tổng số giường cho bệnh nhân lao lên đến 6444 giường.

Nhờ xây dựng được mạng lưới chống lao rộng khắp đến tận cơ sở, công tác tiêm phòng lao rộng rãi, tỷ lệ lao tiền nhiễm giảm rất nhiều, số trẻ lao màng não và chết vì lao màng não ít hẳn đi, tỉ lệ chết lao từ 400-500/100000 dân xuống còn 20-40/100000 dân, tỉ lệ lao chung trong vòng 3-5 nǎm giảm ít nhất 50%. Hiệp hội Chống Lao Thế giới đã đánh giá tổ chức chống lao của Việt Nam là "một mẫu mực tổ chức chống lao cho những nước có nền kinh tế thấp". Chuyên ngành lao đã có thể từ công tác phòng chống lao là chủ yếu triển khai từng bước sang lĩnh vực các bệnh phổi khác ngay trong mấy nǎm cuối của 10 nǎm xây dựng chuyên ngành lao trong thời kỳ Phạm Ngọc Thạch lãnh đạo chuyên ngành này. Đánh giá cao những thành tựu và những đóng góp của ông trong công tác phòng chống lao, tại Đại hội liên hoan Anh hùng Chiến sỹ thi đua Toàn quốc lần thứ nhất, nǎm 1958, ông đã được nhà nước tuyên dương là một trong hai Anh hùng Lao động đầu tiên của ngành y tế.

suckhoecongdong.com

Ý kiến bạn đọc__________________________________________________________________________

[Quay lại]
Share |


CÁC BÀI VIẾT KHÁC
  • Bookmark & Share: 
  • Share |
  • Tầm nhìn của chúng tôi là một thế giới ở đó mọi người đều có cơ hội phát huy hết khả năng của mình